Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

TRẺ EM VÀ NGƯỜI LỚN ĐỀU BỊ VIÊM DA DẦU


Ở trẻ em
Viêm da dầu có thể xuất hiện ở các vị trí
+ Ở đầu: Đỉnh đầu đóng vảy nhờn như mỡ, có màu trắng, trắng xám hay vàng, không ngứa, giống như “mũ úp”.
+ Ở thân mình (bao gồm cả tổn thương nếp gấp và vùng quấn tã) vảy nhờn, bóng mầu vàng sẫm. Khi những vẩy này bong ra, phần da ở chỗ đó đỏ ửng.
 Ở người lớn:
- Ở đầu: Gầu ở da đầu là biểu hiện sớm nhất của viêm da dầu.
Cuối giai đoạn này xung quanh các nang lông thường đỏ lên, bong vảy, lan thành từng mảng có ranh giới rõ. Mảng tổn thương có thể lan rộng và tiến ra rìa chân tóc. Trường hợp mạn tính có thể thấy rụng tóc.
- Ở mặt:
+ Viêm da dầu thường đặc trưng bằng thương tổn vùng lông mày, điểm giữa trên gốc mũi và rãnh mũi má. Thương tổn là các dát đỏ bong vảy da, ranh giới rõ và thường liên quan đến thương tổn trên đầu.
+ Viêm bờ mi cũng thường thấy, bờ mi đỏ lên và có những vảy da trắng nhỏ.
+ Viêm da dầu nông ở cằm thường gặp ở nam giới ở giai đoạn đầu khi mọc râu.
- Ở thân mình:
+ Hình thái cánh hoa (Petaloide form): Thường gặp nhất, thường xuất hiện ở vùng trước xương ức và vùng liên bả vai ở nam giới. Thương tổn bắt đầu bằng những sẩn nhỏ nang lông, màu đỏ nâu, phía trên có vảy tiết bã. Thương tổn lan rộng ra và liên kết với nhau tạo thành đám thương tổn có hình vòng cung với vảy da trắng ở vùng trung tâm, các sẩn đỏ thẫm với vảy tiết bã ở vùng ngoại vi.
+ Hình thái bong vảy phấn: Là các dát đỏ bong vảy.
+ Ở các nếp gấp như nách, bẹn, sinh dục, kẽ dưới vú: Biểu hiện như viêm kẽ, các dát đỏ ranh giới rõ và có vảy da tiết bã.

BỆNH VIÊM DA DẦU CO THỂ CHỮA KHỎI


Viêm da dầu là một bệnh da sẩn vảy rất thường gặp, chiếm khoảng hơn 5% dân số, bệnh thường xảy ra ở nam giới. Bệnh có đặc điểm là đỏ da từ nhẹ đến nặng, thường kèm theo vảy mỡ dày và viêm nhẹ. Vị trí điển hình thường gặp là vùng da có nhiều tuyến bã, đặc biệt là ở mặt, tai, da đầu và vùng trên của thân.
Viêm da dầu thường diễn biến mạn tính và tái phát, thời gian khỏi bệnh ngắn nên đã có nhiều phương pháp điều trị được áp dụng. Điều trị viêm da dầu ở mặt chủ yếu là corticosteroid tại chỗ, thuốc kháng nấm hoặc kết hợp cả hai loại. Mặc dù steroid tại chỗ làm giảm nhanh các triệu chứng của viêm da dầu nhờ hoạt tính kháng viêm nhưng thường liên quan đến tác dụng phụ khi sử dụng kéo dài và sớm tái phát sau khi ngừng điều trị do vậy việc sử dụng thuốc bị hạn chế. Các thuốc kháng nấm tại chỗ cũng thường được sử dụng để làm giảm sự xâm nhập của các nấm men ưa mỡ, Malassezia(Pityrosporum ovale), nhưng hiệu quả kháng viêm của các thuốc này xuất hiện chậm hơn so với Steroid tại chỗ.
Pimecrolimus kem 1% là một dạng thuốc bôi mới (macrolactam) có tác dụng điều hoà miễn dịch tại chỗ được sử dụng rộng rãi trong điều trị viêm da cơ địa nhờ tác dụng ức chế hoạt hoá của tế bào T và sản sinh Cytokine tiền viêm. Thuốc này cũng cho thấy có hiệu quả trong điều trị các bệnh da có viêm khác. Crurchfield đã đề nghị Pimecrolimus kem 1% có thể được sử dụng như là một trị liệu hiệu quả viêm da dầu ở mặt. Rigopoulos và cộng sự đã thực hiện một thử nghiệm lâm sàng mở ngẫu nhiên với Pimecrolimus kem 1% và Betamethasone 17-valerate kem 0,1 kết quả cho thấy Pimecrolimus có thể là thuốc thay thế tuyệt vời trong điều trị viêm da dầu. Ơ đây chúng tôi giới thiệu sự đáp ứng nhanh và chắc chắn với Pimecrolimus trong điều trị viêm da dầu.
2. BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP:
Nghiên cứu này được thực hiện trong 4 tuần, một thử nghiệm lâm sàng mở để đánh giá hiệu quả của Pimecrolimus kem 1% trong điều trị viêm da dầu ở mặt.
Tổng cộng 20 bệnh nhân với chẩn đoán lâm sàng là viêm da dầu ở mặt được đưa vào nghiên cứu trong đó có 16 nam và 4 nữ với tuổi trung bình là 47,9 và thời gian mắc bệnh trung bình là 3,8 năm. Những bệnh nhân đã được dùng Corticosteroid toàn thân hoặc tại chỗ, Retinoid hoặc các thuốc điều hoà miễn dịch trong vòng 28 ngày trước đó không đưa vào nghiên cứu. Những bệnh nhân bị bất cứ bệnh nào có ảnh hưởng đến miễn dịch (U lympho, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, các bệnh suy giảm miễn dịch khác, hoặc có tiền sử bệnh ác tính) bị loại trừ. Tiêu chuẩn loại trừ khác: Phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và những bệnh nhân bị những bệnh da khác ở mặt.
Bệnh nhân đưa vào nghiên cứu được hướng dẫn ngừng các thuốc kháng nấm, kháng sinh tại chỗ và toàn thân như: Hắc ín, Zinc pyrithione hoặc selerium sulfate trong vòng 14 ngày trước khi bắt đầu điều trị, các chế phẩm làm sạch da mặt và dầu gội không có thuốc được phép sử dụng trong nghiên cứu.
Mặt khác, bệnh nhân còn được hướng dẫn hạn chế đến mức tối thiểu hoặc tránh ánh sáng tự nhiên hoặc nhân tạo. Bệnh nhân được hướng dẫn bôi Pimecrolimus kem 1% (Norvatis, Basel, Switzerland) các vùng thương tổn ở mặt với 1 lớp mỏng và bôi 2 lần mỗi ngày trong 4 tuần liên tục. Nếu các triệu chứng của viêm da dầu được giải quyết sớm thì bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng Pimecrolimus kem 1% thêm 1 tuần.
Đánh giá triệu chứng của viêm da dầu được thực hiện tại thời điểm bắt đầu vào nghiên cứu và tại tuần thứ nhất, thứ hai và tuần thứ tư. Bốn vùng được đánh giá (trán/vùng lông mày, kẽ mũi má, vùng quanh miệng/cằm, và vùng sau tai ), đánh giá lâm sàng bằng các triệu chứng: đỏ da, bong vảy, và ngứa ở 4 mức độ cho điểm từ 0-3 : không có: 0; nhẹ: 1; trung bình: 2; nặng: 3. Điểm số của các triệu chứng lâm sàng và các dấu hiệu tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu được so sánh với những lần tái khám sau đó để đánh giá hiệu quả của Pimecrolimus kem. Thầy thuốc và bệnh nhân đánh giá tổng thể các triệu chứng của viêm da dầu tại mỗi lần tái khám: sạch tổn thương hoàn toàn (không có bất kỳ dấu hiệu nào của viêm da dầu); sạch hầu hết (>90% sạch tổn thương); cải thiện rõ (75-90% sạch tổn thương); cải thiện trung bình (50-75% sạch tổn thương); cải thiện không đáng kể (25-50% sạch tổn thương); không thay đổi so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu; hoặc bệnh xấu đi so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Phản ứng phụ tại chỗ như là cảm giác rát bỏng, nhức, đau, đau nhức, hoặc dấu hiệu nhiễm virus, nhiễm khuẩn được ghi nhận: không, nhẹ, trung bình, hoặc nặng. Theo dõi sự tái phát của các triệu chứng: đỏ da, bong vảy, hoặc ngứa sau khi dừng Pimecrolimus được thực hiện qua điện thoại. Đánh giá hiệu quả của Pimecrolimus bằng phân tích số liệu qua các triệu chứng đỏ da, vảy, và ngứa với test ANOVA.

NHẬN BIẾT VÀ ĐIÊU TRỊ VIÊM DA DẦU

Là một dạng viêm da mạn tính không rõ căn nguyên, đặc trưng bởi tình trạng bong vảy ở mặt và da đầu. Viêm da dầu thường xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi hoặc ở người lớn trên 30 tuổi, bệnh thường gặp hơn ở nam giới, có tính gia đình và nặng lên vào mùa lạnh. Viêm da dầu thường xuất hiện từ từ, gây ra vảy gầu khô và dính ở da đầu, đôi khi gây ngứa và không làm rụng tóc. Trong những trường hợp nặng, vảy da có thể xuất hiện ở sau tai, trong ống tai, cung lông mày, sống mũi, quanh mũi, ngực hoặc vai. Vảy ở da đầu có thể được điều trị với các loại dầu gội ngứa pyrithion kẽm, selenium sulfid, salicylic acid, lưu huỳnh hoặc ketoconazol. Những trường hợp có vảy dày cần được điều trị bằng các loại kem có chứa corticosteroid hoặc salicylic acid. Việc điều trị thường phải kéo dài nhiều tuần, nếu sau khi ngừng điều trị mà bệnh tái phát thì việc điều trị có thể bắt đầu lại từ đầu. Lưu ý khi dùng các loại kem chứa corticosteroid cho tổn thương ở da mặt hoặc cho trẻ em, nên ưu tiên sử dụng những loại có tác dụng nhẹ như hydrocortison, dexamethason.